en
Feedback
KEM - Tạp chí Olympiad Hóa học

KEM - Tạp chí Olympiad Hóa học

Open in Telegram

Cập nhật các thông tin hữu ích về Hóa học & Ứng dụng

Show more
588
Subscribers
No data24 hours
-27 days
-1230 days
Posts Archive
Vì T đang bị cấm ở Việt Nam nên KEM mời bạn chuyển sang theo dõi các bài đăng của chúng mình trên whatsapp nha. https://whats
Vì T đang bị cấm ở Việt Nam nên KEM mời bạn chuyển sang theo dõi các bài đăng của chúng mình trên whatsapp nha. https://whatsapp.com/channel/0029VbAiKHc0LKZ6WhcWMo45

Hợp chất đa vòng (polycyclic compound) là những hợp chất hữu cơ chứa từ hai vòng trở lên có chung một vài nguyên tử carbon. C
Hợp chất đa vòng (polycyclic compound) là những hợp chất hữu cơ chứa từ hai vòng trở lên có chung một vài nguyên tử carbon. Có ba cách để kết nối cách vòng với nhau. - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

Sự bùng nổ trong khám phá các hợp chất hữu cơ từ thế kỷ 19 đã tạo ra nhu cầu cấp thiết cho một hệ thống đặt tên có tính logic
Sự bùng nổ trong khám phá các hợp chất hữu cơ từ thế kỷ 19 đã tạo ra nhu cầu cấp thiết cho một hệ thống đặt tên có tính logic và nhất quán. Hiệp hội Quốc tế về Hóa học Thuần tústyrene, urea (IUPAC) đã phát triển một bộ quy tắc danh pháp để đặt tên chính xác và thống nhất cho các hợp chất hữu cơ dựa trên cấu trúc phân tử mà không gây nhầm lẫn[1]. Hệ thống danh pháp IUPAC dựa trên nguyên tắc thay thế, trong đó tên của hợp chất được dẫn ra từ tên của hydrocarbon tương ứng bằng cách thay thế/bổ sung các tiền tố/hậu tố phù hợp. Cấu trúc tên gọi theo danh pháp IUPAC thường gồm 5 thành tố. [1] Việc áp dụng thống nhất một hệ thống danh pháp đã được thỏa thuận là công cụ hữu ích cho việc giao tiếp hiệu quả trong các ngành khoa học hóa học, công nghiệp và các quy định liên quan đến xuất nhập khẩu hoặc an toàn sức khỏe. Cần lưu ý rằng nhiều hợp chất có thể có tên phi-hệ thống hoặc bán-hệ thống và trong nhiều trường hợp, các quy tắc IUPAC cũng chấp nhận nhiều hơn một tên hệ thống. Một số tên thông thường (ví dụ: styrene, urea) cũng được sử dụng trong danh pháp hệ thống. - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

Hai phân tử có cùng công thức phân tử nhưng khác về công thức cấu tạo thì được gọi là đồng phân. Nếu hai đồng phân khác nhau
Hai phân tử có cùng công thức phân tử nhưng khác về công thức cấu tạo thì được gọi là đồng phân. Nếu hai đồng phân khác nhau về trình tự sắp xếp các nguyên tử thì được gọi là đồng phân cấu trúc. Nếu chúng có cùng trình tự nguyên tử nhưng khác nhau về cách sắp xếp trong không gian thì được gọi là đồng phân lập thể. Đồng phân cấu trúc có thể chia thành các loại như sau. - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

Nhóm chức được định nghĩa là nguyên tử, nhóm nguyên tử hoặc liên kết hiện diện và quyết định tính chất hoá học của hợp chất.
Nhóm chức được định nghĩa là nguyên tử, nhóm nguyên tử hoặc liên kết hiện diện và quyết định tính chất hoá học của hợp chất. Các phản ứng hữu cơ thường xảy ra tại vị trí nhóm chức mà không ảnh hưởng đến phần còn lại của phân tử. Trong biểu diễn hóa học, nhóm chức thường kết hợp với kí hiệu R (đại diện cho phần còn lại của phân tử). Việc phân loại hợp chất hữu cơ theo nhóm chức tạo ra một hệ thống có trật tự và dễ hiểu. Mỗi nhóm chức có cấu trúc đặc trưng và quy tắc đặt tên riêng, thường thể hiện qua tiền tố hoặc hậu tố trong danh pháp IUPAC. Ví dụ, khi nhìn vào tên gọi hợp chất 3-methylpentan-2-ol thì có thể biết chất này có nhóm chức −OH (alcohol) với hậu tố -ol. Tưương tự, tên gọi 2-bromo-3-methylbutane thể hiện hợp chất có nhóm chức −Br (bromine) với tiền tố bromo-. - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

[Trích sách] Tiêu chí quan trọng nhất để xảy ra sự xen phủ hiệu quả giữa các AO (vân đạo/quỹ vực nguyên tử) là chúng phải có
[Trích sách] Tiêu chí quan trọng nhất để xảy ra sự xen phủ hiệu quả giữa các AO (vân đạo/quỹ vực nguyên tử) là chúng phải có mức năng lượng gần nhau, tuy nhiên đây không phải tiêu chí duy nhất. Cách xen phủ của các orbital cũng rất quan trọng. Ta đã thấy rằng các p orbital xen phủ trục (tạo thành liên kết σ) tốt hơn xen phủ bên (tạo thành liên kết π). Một yếu tố nữa là kích thước của các AO. Để xen phủ tốt nhất thì các orbital nên có kích thước tương đương, ví dụ xen phủ 2p–2p có hiệu quả hơn các xen phủ 3p–2p hoặc 4p–2p. Một yếu tố quan trọng khác là tính đối xứng của các orbital. Hai orbital phải có tính đối xứng phù hợp thì mới xen phủ được. Ví dụ, orbital của nguyên tử này không thể tổ hợp với hoặc orbital của nguyên tử kia do chúng vuông góc với nhau. Còn s orbital thì chỉ có thể tổ hợp với p orbital theo kiểu xen phủ trục. Kiểu xen phủ bên sẽ dẫn đến các tương tác liên kết và phản liên kết tương đương nhau.

Các đơn chất rắn có thể được chia thành ba loại theo khác biệt về tính dẫn điện như sau: ✅ Chất dẫn điện (thường là kim loại)
Các đơn chất rắn có thể được chia thành ba loại theo khác biệt về tính dẫn điện như sau: ✅ Chất dẫn điện (thường là kim loại): Không có khe dải (band gap) – tức là vùng trống giữa dải hoá trị và dải dẫn – nên chỉ cần áp vào một hiệu điện thế nhỏ thì các electron sẽ dịch chuyển từ dải hoá trị lên dải dẫn. Khi nhiệt độ tăng, sự chuyển động ngẫu nhiên của các nguyên tử cũng tăng và cản trở sự dịch chuyển của các electron. Do đó, tính dẫn điện giảm khi làm nóng kim loại. ✅ Chất bán dẫn (thường là á kim): Trong chất bán dẫn, tồn tại một khe dải nhỏ giữa dải hoá trị và dải dẫn. Các electron được kích thích nhiệt có thể đi qua khe dải, cho phép một dòng điện nhỏ truyền qua. Trái với chất dẫn điện thì tính dẫn điện của chất bán dẫn tăng khi được làm nóng. ✅ Chất cách điện (thường là phi kim): Tồn tại một khe dải lớn giữa các dải nên không quan sát được dòng điện kể cả khi làm nóng vật liệu [HÌNH: Giản đồ minh hoạ sự khác biệt về kích thước của khe dải của chất dẫn điện, chất bán dẫn và chất cách điện.] Vật liệu bán dẫn là trung tâm của các thiết bị điện tử thể rắn như chip máy tính hoặc diode phát quang (LED). Bình thường thì chất bán dẫn không có khả năng dẫn điện, nhưng khi được cung cấp năng lượng thì có thể. Kim loại và chất bán dẫn thường được phân biệt bởi sự phụ thuộc của khả năng dẫn điện theo nhiệt độ. Khi nhiệt độ tăng, các dao động của mạng tinh thể làm giảm tính dẫn điện của kim loại; nhưng với chất bán dẫn thì tính dẫn tăng theo nhiệt độ hoặc năng lượng được cấp. Về cơ bản, tính chất này cho phép các thiết bị làm từ chất bán dẫn sẽ có các trạng thái bật/tắt (on/ off), tạo thành nền tảng của logic nhị phân được dùng trong máy tính. - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

Polycaprolactam (hay Nylon 6) là polymer lặp lại đơn vị –NH–(CH₂)₅–CO–, với cùng một chiều liên kết amid trên toàn chuỗi. Tại
Polycaprolactam (hay Nylon 6) là polymer lặp lại đơn vị –NH–(CH₂)₅–CO–, với cùng một chiều liên kết amid trên toàn chuỗi. Tại mỗi nước hoặc hãng sản xuất, Nylon 6 còn mang tên thương mại khác nhau (Perlon, Dederon, Nylatron, Capron, Ultramid, Akulon, Kapron, Rugopa…). Ở Việt Nam, “tơ caprolactam” thường dùng để chỉ sợi Nylon 6, nhưng trong tài liệu tiếng Anh chuẩn – như tạp chí khoa học, trang Wikipedia hoặc các cơ sở dữ liệu PubChem, CAS – chỉ có hai tên chính thức là nylon 6 hoặc polycaprolactam (CAS 25038-54-4). Do đó, dù “tơ caprolactam” và nylon 6 cùng một chất, ta nên ưu tiên dùng nylon 6 (hoặc polycaprolactam) để tránh nhầm lẫn.

Ban đầu, các cation được sắp xếp bên cạnh các anion, nhưng khi tác động áp lực lên chất rắn ion thì các lớp nguyên tử sẽ trượ
Ban đầu, các cation được sắp xếp bên cạnh các anion, nhưng khi tác động áp lực lên chất rắn ion thì các lớp nguyên tử sẽ trượt lên nhau, khiến cho các ion cùng dấu điện tích nằm cạnh nhau. Tương tác đẩy sinh ra khiến cho các lớp nguyên tử bị tách khỏi nhau. Tuỳ vào bối cảnh, tính giòn này có thể được xem là khuyết điểm hay ưu điểm. Ví dụ, tính chất này phù hợp với việc chạm khắc lên các loại đá quý như hồng ngọc (có thành phần chính yếu là Al₂O₃). - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

Đồng phân cấu trúc có cùng công thức phân tử nhưng khác nhau về cách liên kết của các nguyên tử. Hai loại đồng phân cấu trúc
+6
Đồng phân cấu trúc có cùng công thức phân tử nhưng khác nhau về cách liên kết của các nguyên tử. Hai loại đồng phân cấu trúc quan trọng nhất trong hóa học phối trí là đồng phân phối trí và đồng phân liên kết.

Quan điểm chính của thuyết VB là sự hình thành các orbital nguyên tử lai hóa dùng để chia sẻ đôi electron, tạo thành liên kết
Quan điểm chính của thuyết VB là sự hình thành các orbital nguyên tử lai hóa dùng để chia sẻ đôi electron, tạo thành liên kết σ giữa các nguyên tử. Ta có thể sử dụng thuyết VB và VSEPR để giải thích liên kết trong ion phức, nhưng cần lưu ý hai điểm quan trọng. ⚠️ Đặc điểm cấu trúc Việc dự đoán cấu trúc bằng thuyết VSEPR không phải lúc nào cũng áp dụng hiệu quả được với phức chất. Tuy nhiên, ta có thể giả định rằng ion phức có số phối trí 6 sẽ có sắp xếp phối tử dạng bát diện còn phức chất với hai phối tử sẽ có dạng thẳng. Mặt khác, ion phức có số phối trí 4 có thể là tứ diện hoặc vuông phẳng và không có lí thuyết hoàn toàn đáng tin cậy để dự đoán cấu trúc nào sẽ xuất hiện trong mỗi trường hợp cụ thể. ⚠️ Kiểu lai hoá Tương tác giữa ion kim loại và phối tử có thể được xem như một phản ứng Lewis acid–base với phối tử (Lewis base) nhường đôi electron tự do vào orbital lai hoá trống của ion kim loại (Lewis acid) để tạo thành liên kết cộng hóa trị phối trí. Kiểu lai hoá của ion kim loại phụ thuộc vào số lượng và sự sắp xếp của phối tử. Ví dụ, để chứa các đôi electron tự do từ 6 phân tử ammonia trong ion Co(NH₃)₆³⁺ bát diện, cần một bộ 6 orbital nguyên tử lai hóa trống – ứng với kiểu lai hoá sp³ d². Kiểu lai hoá của ion kim loại trong phức chất phối trí bốn phụ thuộc vào việc cấu trúc là tứ diện hay vuông phẳng: - Cấu trúc tứ diện ứng với kiểu lai hóa sp³. Ví dụ, ion CoCl₄²⁻. - Cấu trúc vuông phẳng ứng với kiểu lai hoá sp²d. Ví dụ, ion Ni(CN)₄²⁻. Phức chất thẳng tương ứng với kiểu lai hoá sp. ⛔️ Mặc dù thuyết VB và VSEPR có thể giải thích cho sự tạo thành liên kết kim loại–phối tử, NHƯNG NGÀY NAY NÓ ÍT ĐƯỢC SỬ DỤNG vì không thể dễ dàng giải thích các tính chất quan trọng của ion phức, như từ tính và màu sắc. Cá nhân KEM thì khuyên các giáo viên phổ thông nên dành thời gian đọc lại quan điểm thuyết trường tinh thể, thay vì vật vã với các quan điểm “dồn e” không còn hợp thời.

Cisplatin (cis-Pt(NH₃)₂Cl₂) là minh chứng rõ nét về tầm quan trọng của đồng phân hình học trong y học. Hợp chất này được phát
+5
Cisplatin (cis-Pt(NH₃)₂Cl₂) là minh chứng rõ nét về tầm quan trọng của đồng phân hình học trong y học. Hợp chất này được phát hiện tình cờ vào năm 1964 khi các nhà khoa học thấy vi khuẩn E. coli tiếp xúc với cisplatin không phân chia nhưng vẫn phát triển, tạo thành tế bào sợi dài bất thường.Tính chất ức chế phân bào này đặc biệt hữu ích trong điều trị ung thư, vì tế bào ung thư nhân lên nhanh chóng do phân chia không kiểm soát. Quan trọng hơn, chỉ có đồng phân cis mới có tác dụng chống ung thư hiệu quả (đặc biệt với ung thư tinh hoàn và buồng trứng), trong khi đồng phân trans không có tác dụng điều trị. - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

Số phối trí là số lượng nguyên tử, ion hoặc phân tử (gọi là phối tử) liên kết trực tiếp với kim loại trung tâm. Đây là khái n
Số phối trí là số lượng nguyên tử, ion hoặc phân tử (gọi là phối tử) liên kết trực tiếp với kim loại trung tâm. Đây là khái niệm quan trọng trong hóa học phối trí và tinh thể học. Số phối trí có thể biến đổi từ 2 đến 12, trong đó phổ biến nhất là số phối trí 6, tiếp theo là 4. Số phối trí 2 thường chỉ giới hạn trong phức chất của Cu(I), Ag(I) và Au(I), trong khi số phối trí lớn hơn 6 hiếm gặp ở các nguyên tố dãy chuyển tiếp đầu tiên. Số phối trí phụ thuộc vào kích thước ion và điện tích. Ion nhỏ như Al³⁺ thường có số phối trí thấp (4-6), trong khi ion lớn như La³⁺ có thể đạt số phối trí 8-12. Cấu trúc hình học của phức chất cũng phụ thuộc vào số phối trí: số phối trí 6 thường tạo hình bát diện, số phối trí 4 có thể tạo hình tứ diện hoặc vuông phẳng.

Phức chất và muối kép là hai loại hợp phẩm (sản phẩm cộng) được tạo thành khi các hợp chất bền kết hợp với nhau theo tỉ lệ hợ
Phức chất và muối kép là hai loại hợp phẩm (sản phẩm cộng) được tạo thành khi các hợp chất bền kết hợp với nhau theo tỉ lệ hợp thức, nhưng có sự khác biệt quan trọng về tính chất trong dung dịch. Muối kép (như carnallite KCl·MgCl₂·6H₂O và phèn potassium K₂SO₄·Al₂(SO₄)₃·24H₂O) khi hòa tan trong nước sẽ phân li hoàn toàn thành các ion riêng lẻ và thể hiện tính chất của từng ion thành phần (K⁺, Mg²⁺, Cl⁻). Ngược lại, phức chất (như CuSO₄·4NH₃·H₂O và Fe(CN)₆·4KCN) khi hòa tan không phân li hoàn toàn thành các ion đơn giản mà vẫn tồn tại ở dạng ion phức, do đó không thể hiện tính chất của các ion thành phần đơn lẻ.

Hoàn thành bảng sau bằng cách điền công thức các hoá chủng P₄O₁₀, PO₄³⁻, HPO₃²⁻ và H₂PO₂⁻ và bậc liên kết tương ứng với giá t
Hoàn thành bảng sau bằng cách điền công thức các hoá chủng P₄O₁₀, PO₄³⁻, HPO₃²⁻ và H₂PO₂⁻ và bậc liên kết tương ứng với giá trị độ dài P-O tương ứng ở cột cuối. Trong P₄O₁₀, bốn nguyên tử P tạo thành một tứ diện và có sáu liên kết cầu P-O-P dọc theo các cạnh của tứ diện. Ngoài ra, còn có bốn liên kết P-O đầu mạch. Do đó, P₄O₁₀ sẽ xuất hiện hai lần trong bảng: liên kết cầu P-O-P và liên kết P-O đầu mạch.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA THUYẾT VSEPR VÀ THUYẾT LAI HÓA Thuyết VSEPR và thuyết lai hóa bổ sung cho nhau trong việc giải thích cấu trú
MỐI LIÊN HỆ GIỮA THUYẾT VSEPR VÀ THUYẾT LAI HÓA Thuyết VSEPR và thuyết lai hóa bổ sung cho nhau trong việc giải thích cấu trúc phân tử. Trong khi thuyết VSEPR dự đoán hình dạng phân tử dựa trên sự đẩy tĩnh điện giữa các đôi electron hóa trị thì thuyết lai hóa lại giải thích cách hình thành các orbital nguyên tử đã được tối ưu hóa về mặt năng lượng và định hướng không gian nhằm đạt được cấu trúc đó. Số lượng liên kết và đôi electron tự do quanh nguyên tử trung tâm (tức là chỉ số không gian s) quyết định kiểu lai hóa. Chẳng hạn, s = 4 tương ứng với lai hóa sp³ (tứ diện), s = 3 – sp² (tam giác) và s = 2 – sp (thẳng). Nói cách khác, thuyết VSEPR chỉ ra đa diện phối trí (tứ diện, tam giác, …), cho phép suy ra kiểu lai hóa cần thiết để các orbital có hướng phân bố phù hợp với hình học đó. - - - - - - - ⚠️ Nội dung trích từ sách 273.15K – Nền tảng kiến thức chuyên Hoá cho các kì thi HSG.

Theo mô hình Bohr, electron trong nguyên tử chỉ có thể tồn tại ở một số mức năng lượng xác định. Điều này cũng giống như các
+5
Theo mô hình Bohr, electron trong nguyên tử chỉ có thể tồn tại ở một số mức năng lượng xác định. Điều này cũng giống như các bậc thang – electron chỉ có thể đứng trên từng bậc, không thể ở giữa hai bậc. Khi electron ở mức năng lượng thấp nhất, ta nói nguyên tử đang ở trạng thái cơ bản. Mô hình này đã phá vỡ quan niệm cổ điển vốn cho rằng electron có thể tồn tại ở bất kì khoảng cách nào từ hạt nhân. Khi hấp thụ đúng một lượng năng lượng phù hợp, electron có thể "nhảy" lên bậc cao hơn, khiến nguyên tử chuyển sang trạng thái kích thích. Tuy nhiên, trạng thái này không bền vững. Electron sẽ nhanh chóng "rơi" về trạng thái cơ bản ban đầu và giải phóng năng lượng dưới dạng ánh sáng.

QUY ƯỚC DẤU CỦA ÁI LỰC ELECTRON [ĐIỆN TỬ] Khi bạn học về khái niệm ái lực electron, hẳn sẽ khá “đau đầu”, thậm chí là bị rối
QUY ƯỚC DẤU CỦA ÁI LỰC ELECTRON [ĐIỆN TỬ] Khi bạn học về khái niệm ái lực electron, hẳn sẽ khá “đau đầu”, thậm chí là bị rối khi chuyển đổi qua nhiều tài liệu. Hiện nay, có hai quy ước dấu cho ái lực electron được sử dụng trong các giáo trình và báo cáo khoa học: ① Quy ước dấu ban đầu/truyền thống: Ái lực electron là năng lượng cần để tách một electron khỏi một ion âm trong chân không: A⁻(g) → A(g) + e⁻. Đây là định nghĩa ban đầu và vẫn phổ biến trong các tài liệu nghiên cứu hiện nay. Theo quy ước này, ái lực electron là dương đối với các nguyên tố như fluorine, vì năng lượng được giải phóng khi thêm một electron. ② Quy ước dấu mới: Nhiều giáo trình đã thay đổi quy ước dấu, theo đó ái lực electron mang dấu âm khi năng lượng được giải phóng. Quy ước này định nghĩa ái lực electron tương ứng với ΔE của phản ứng ngược lại: A(g) + e⁻ → A⁻(g). Thực ra đây không phải vấn đề mới, mà nó đã nảy sinh từ thập niên 1990 và Bài báo của John C. Wheeler năm 1997 đăng trên Journal of Chemical Education đã đưa ra lập luận ủng hộ việc quay lại quy ước dấu ban đầu [1]. Wheeler đưa ra một số lí do chính để quay trở lại quy ước dấu ban đầu, quan trọng nhất là: Với quy ước này, ái lực electron, tương tự như năng lượng ion hóa của nguyên tử, là năng lượng cần thiết để tách electron khỏi ion âm của nguyên tử. Ái lực electron cũng thể hiện cùng xu hướng tuần hoàn và cùng sự gián đoạn xu hướng do sự lấp đầy các lớp vỏ và năng lượng ghép cặp. Wheeler cũng chỉ ra rằng quy ước ban đầu giúp hiểu rõ mối liên hệ giữa ái lực electron và độ âm điện. Định nghĩa Mulliken về độ âm điện, X = IE + EA, trở nên rõ ràng hơn khi sử dụng quy ước dấu ban đầu. Vấn đề quy ước dấu của ái lực electron minh họa sự phức tạp trong việc truyền đạt các khái niệm khoa học qua các tài liệu học thuật. Mặc dù quy ước dấu ban đầu có nhiều ưu điểm về mặt khái niệm và sự nhất quán với văn liệu nghiên cứu, nhưng quy ước dấu mới vẫn tiếp tục được sử dụng trong nhiều tài liệu giáo dục. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Wheeler, J. C. (1997). Electron Affinities of the Alkaline Earth Metals and the Sign Convention for Electron Affinity. Journal of Chemical Education, 74(1), 123-127. 2. IUPAC. Compendium of Chemical Terminology, 5th ed. (the "Gold Book"). Compiled by A. D. McNaught and A. Wilkinson. Blackwell Scientific Publications, Oxford (2025).